Thứ Sáu, 21 tháng 9, 2012

Thuận Thiên di sử - Hồi 46

HỒI THỨ BỐN MƯƠI SÁU

Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.
(Đoạn trường tân thanh)

Lâm Huệ-Phương ngồi vuốt tóc Mỹ-Linh như một bà mẹ hiền đối với cô con gái yêu:
    — Đáng lý ra, giờ này tôi là thím của công chúa. Nếu may mắn, không chừng tôi còn trở thành vương phi của một vị vương gia, có tài kinh thiên động địa, có ơn đức trải khắp đất nước, lại nhã lượng, cao trí. Nhưng cái tình là cái chi chi, lịch sử cổ kim không ai định nghĩa nổi. Từ ngày gặp Hồng-Sơn đại phu, trong tâm tôi chỉ có chàng. Nếu vương gia như những vị đế vương khác, tôi đành ôm mối vạn cổ sầu trong vương phủ. Thế nhưng lòng dạ vương gia như biển, cho nên tôi mới được hạnh phúc như thế này.
    Huệ-Phương nói nhỏ:
    — Mỹ-Linh nhớ nhé. Mỹ-Linh rời đây, trở về gặp vương gia. Mỹ-Linh nói dùm Huệ-Phương dù thịt nát xương tan, cũng nguyện làm bất cứ việc gì trợ giúp cái chí của vương gia.
    Hai tay Mỹ-Linh ôm lấy cổ Huệ-Phương nói nhỏ vào tai:
    — Chú hai muốn biết, việc chú trả phu nhân lại cho đại phu. Đại phu đã biết chưa?
    — Chưa. Không phải tôi dối chồng, mà chưa đến lúc nói. Hồi vương gia bầy kế cho tôi trở lại gặp đại phu. Vương gia có dự trù trường hợp đại phu thắc mắc rằng, tôi trốn khỏi Hoàng-cung mà tại sao triều đình không truy cứu gia đình. Nên vương gia khuyên tôi mang bố mẹ theo, giả tìm đại phu trị bệnh. Quả nhiên, một đêm đại phu thắc mắc. Tôi trả lời đại phu rằng: Vì khi tôi về đến nhà, thì dẫn bố mẹ đi tìm đại phu, rồi ở lại luôn trong Vạn-thảo sơn trang. Nào biết triều đình truy cứu hay không? Ví dù có truy tầm, cũng khó mà tìm ra.

    Huệ-Phương ngước mắt nhìn lên bầu trời xanh ngắt, lảng vảng những tảng mây trắng trôi lờ đờ:
    — Một lần khác đại phu hỏi chi tiết về việc tôi được tuyển cung. Tôi cứ sự thực trình bầy hết. Chỉ không thuật đoạn được đưa về phủ Khai-quốc vương. Thay vào đó tôi nói: Đêm đó, em ngồi tưởng nhớ đến anh, ôm mặt khóc cho mối tình không trọn vẹn, thì một người mặc quần áo vương tước cật vấn em tại sao lại khóc. Em nói rõ sự tình. Vị vương đó dẫn em theo cửa sau trốn khỏi Hoàng-thanh. Đại phu hỏi tên vị vương ân nhân. Tôi đáp : Không biết tên, nhưng nếu gặp mặt thì nhớ. Đại phu trầm ngâm nói:  Nếu vị vương đó là con Lý Công-Uẩn, mà Uẩn thuận truyền ngôi cho y, thì ta không đòi phục hồi nhà Lê nữa. Tôi hỏi :Tại sao. Chẳng lẽ anh vì một người con gái như em, mà bỏ sự nghiệp tổ tiên?. Đại phu đáp :Không phải vì ân nghĩa nhượng vợ, mà muốn cho người có lượng cả như vậy làm vua, thì nước Việt mới ngóc đầu dậy được.
    Huệ-Phương nhắc lại:
    — Như vậy lúc đầu chỉ có vương gia, vú già nuôi vương gia với tôi biết. Không hiểu vương gia đã cho những ai biết?
    — Thêm ông nội bà nội, Thiệu-Thái, Bảo-Hòa với cháu. Hôm ấy bọn cháu đứng hầu bên cạnh nên biết mọi truyện. Chúng cháu có kể truyện hồi ở Vạn-thảo sơn trang, chúng cháu ngạc nhiên vô cùng, khi thấy phu nhân mới gặp chúng cháu, mà đối xử cực kỳ thân thiết cho ông bà nội nghe. Ông nội khen phu nhân thực không hổ là nữ anh hùng Đại-Việt.

    Rồi Mỹ-Linh tường thuật lại việc phụ vương nàng chất vấn, kết tội Khai-quốc vương trong Long-hoa đường như thế nào. Thuận-thiên hoàng đế cùng hoàng hậu Lập-Nguyên tra khảo vương về Huệ-Phương, Hà-Thanh ra sao. Hoàng đế súyt đem vương ra chặt đầu v.v. không bỏ sót một chi tiết nào.
    Huệ-Phương nước mắt đầm đìa:
    — Vương...anh... anh..vì hạnh phúc của em mà phải chịu trăm bề cay đắng. Dù em có tan xương nát thịt cũng không đền đáp được công đức này của anh.
    Huệ-Phương lau nước mắt rồi cắn vào má Mỹ-Linh một cái:
    — Vương gia thực chu đáo. Hôm qua, tôi xin phu quân tôi cho phép tôi với Lê Văn đi thăm Mỹ-Linh, Bảo-Hòa, Thanh-Mai. Nhưng sự thực muốn gặp vương gia. Tôi ngạc nhiên vô cùng, vì từ xưa tới giờ vương gia cực kỳ chu đáo, mà sao lánh mặt không gặp tôi? Rồi lại cho Mỹ-Linh theo tôi đi dễ dàng trong khi chúng tôi về Thăng-long kỳ này, mực đích đối đầu với vương gia. Thì ra vương gia sợ gặp tôi, rồi lộ bí mật, vương cho Mỹ-Linh đi dễ dàng, để nhờ Mỹ-Linh chuyển tin cho tôi.
    Mỹ-Linh ghé miệng vào tai Huệ-Phương:
    — Phu nhân nói chỉ đúng một nửa. Chú hai không muốn gặp phu nhân. Vì gặp phu nhân, thì sau đó trong lòng nổi cơn bão táp. Chú hai nói, hôm gặp phu nhân, yêu phu nhân, say đắm phu nhân. Nhưng chú hai không muốn nhắm mắt hưởng thụ trong cái đau khổ của phu nhân.
    Trống ngực Huệ-Phương đập mạnh. Mặt nàng lúc trắng, lúc đỏ, nhớ lại cái phút Lý Long bồng nàng lên dường, tay lần mở nút áo, tay kéo dây lưng quần. Bấy giờ nàng như mê như tỉnh, tê dại khắp người. Huệ-Phương quên sao được, từ hồi còn nhỏ, nàng đã nghe nói về vị thái tử tài kiêm văn võ, lại rộng lượng, trọng nghĩa khinh tài. Nàng dệt những giấc mơ đẹp như gấm như hoa. Nàng tưởng tượng sau này sẽ được gặp vị thái tử đó. Thế mà bây giờ nàng đang nằm gọn trong tay con người đa tình, đa tài. Con người này dang chuẩn bị đưa nàng vào giấc mơ huyền ảo của núi Vu-sơn. Thế nhưng bản tính ngay thẳng, nàng phải thố lộ chân tình về cuộc gặp gỡ người thầy thuốc đêm nọ, và dành cho ông tình yêu ngay từ đấy.

    Mỹ-Linh nhìn mặt Huệ-Phương, biết Huệ-Phương chưa quên được chú mình. Nàng nói sang truyện khác:
    — Sao phu nhân biết chị Thanh-Mai bị nạn, mà đến thăm?
    — Khi chúng tôi khởi hành về Thăng-long dự đại hội võ lâm Đại-Việt, đêm tôi mơ thấy đi trên cái xe. Thình lình cái xe bị vấp vào đá, bánh cong đi. Trong phép giải mộng, đó là có người mong mình. Đêm sau tôi thấy Thanh-Mai đang ôm bụng đau đớn. Tôi đoán : Xe bị gẫy bánh là điềm có người mong mình. Thanh-Mai ôm bụng đau đớn, vì nang đang bị tai nạn. Cho nên đến Cổ-loa, tôi lấy xe đi thăm Mỹ-Linh, Bảo-Hòa, Thanh-Mai. Nghe nói ba người ở phủ Khai-Quốc vương. Chúng tôi tới nơi đúng lúc Thiệu-Thái, Thanh-Mai đang mê man. Tôi xin Quốc-vương để tôi đem hai người về đây trị bệnh. Nhiều người xin đi theo. Song tôi chỉ thuận cho Mỹ-Linh đi mà thôi.
    Mỹ-Linh hỏi:
    — Cứ như đại phu nói, cần đả thông Kỳ-binh bát-mạch cùng Thập-nhị chính kinh, thì hoà hợp được Thiền-công với Chu-sa Ngũ-độc. Như vậy anh Thiệu-Thái đã hết nguy hiểm chưa?
    Lê Văn gật đầu:
    — Hết thì hết rồi. Có điều trong người anh Thiệu-Thái còn hút độc Thất-trùng Ngũ-hoa, nên cần cho uống thuốc trục độc ra. Thang thuốc ban nãy để trục độc đấy. Trong lúc anh mê man đã được đổ cho hai thang. Thang hồi nãy là ba. Cơm ba bát, thuốc ba thang. Bệnh của anh khỏi rồi.
    Thiệu-Thái cảm động:
    — Đại phu thực là thần nhân. Không biết hiện giờ bệnh tình chị Thanh-Mai ra sao?
    Hồng-Sơn phu nhân sẽ vỗ tay vào vai Thiệu-Thái:
    — Thế tử đừng lo. Thanh-Mai là đệ tử cưng của phu quân tôi. Trên đời này, chưa từng có ông thầy nào yêu học trò bằng Hồng-Sơn đại phu đâu. Thế tử thì ông ấy để ở đây đưỡng bệnh. Còn Thanh-Mai, ông ấy mang về cho ở phòng kế bên cạnh chúng tôi. Bệnh tình Thanh-Mai gần như đã khỏi hẳn rồi.
    Thiệu-Thái hỏi Lê Văn:
    — Này chú em, có phải Hoàng Giang đại phu chưởng quản y viện Yên-lãng của Cổ-loa là đệ tử của Vạn-thảo sơn trang không?
    — Đúng thế. Người là đệ nhị đệ tử của bố em.
    Đến đó một y sinh vào chắp tay hành lễ với Hồng-Sơn phu nhân, rồi nói với Thiệu-Thái, Mỹ-Linh:
    — Sư phụ tôi mời hai vị lên gặp người có truyện khẩn.
    Mỹ-Linh, Thiệu-Thái đứng lên theo y sinh đi. Qua ba dãy nhà, tới căn nhà bằng gỗ hình bát giác. Y sinh nói lớn:
    — Trình sư phụ, đã mời công chúa Bình-dương cùng thế tử Thân Thiệu-Thái.
    Cánh cửa nhà bát giác mở ra, Thiếu-Mai vẫy tay:
    — Mời hai vị vào. Bố tôi đang chờ.
    Mỹ-Linh, Thiệu-Thái bước vào. Trong căn phòng, có mười người ngồi sau Hồng-Sơn đại phu. Mỹ-Linh nhận diện được mấy người mà nàng đã gặp tại phòng đại hội ở Vạn-thảo sơn trang, trong dịp đón Triệu Thành. Hai người hành lễ:
    — Đệ tử tham kiến đại phu.
    Hoàng Giang đại phu cười:
    — Tôi mời hai vị lên đây để nói một truyện. Như hai vị biết sư phụ tôi không trị bệnh cho người Hoa cũng như con cháu họ Lý. Người chỉ trị bệnh cho con cháu họ Lý với điều kiện. Khi thế tử mê man, công chúa Bình-dương khóc lóc nhờ sư phụ tôi cứu thế tử. Công chúa xin làm bất cứ việc gì mà sư phụ tôi sai bảo. Bây giờ thế tử đã khỏi bệnh. Tôi muốn thế tử nhắc lại một lần nữa lời cam kết đó.
    Thân Thiệu-Thái kính cẩn:
_ Tiểu bối coi như chết đi, được đại phu tái sinh, thì đương nhiên đại phu sai bảo gì, tiểu bối đâu dám chối từ. Huống hồ, trong võ lâm, đại phu ngang vai với ông nội cháu.

Ghi chú   
Hồng-Sơn đại phu xuất thân là con thứ vua Lê Đại-Hành. Vua Lê có tới sáu bà hoàng hậu, cùng hai mươi bốn phi tần, sinh ra mười hai con trai. Nhà vua xuất thân là quan võ, rồi nhờ thời cơ mà được ngôi, cho nên vua hết sức khuyến khích các con luyện tập võ công. Khi con trai đến tuổi mười ba, thì được phong vương, cho mở phủ đệ riêng cùng cưới vợ. Tới tuổi mười sáu, cho cầm quân đánh giặc, tổng trấn một vùng. Theo Khâm-định Việt sử thông giám cương mục của triều Nguyễn, vua Lê phong cho các con trấn nhậm như sau:

    Khai-Minh vương Long-Định trấn Đằng-châu.

    Ngự-Man vương Long-Đinh trấn Phong-châu.

    Ngự-Bắc vương Long-Cân trấn Phù-lan.

    Định-Phiên vương Long-Túng trấn Ngũ-huyện-giang.

    Tư doanh thành phó vương Long-Tương trấn Đỗ-Động.

    Trung-Quốc vương Long-Cánh trấn Mạt-liên.

    Nam-Quốc vương Long-Mang trấn Vũ-long.

    Hành-Quân vương Long-Đế trấn Cổ-lãm.

    Phù-Đái vương trấn Phù-đái.
   
    Hồng-sơn đại phu có tên là Lê Long-Mang. Năm sáu tuổi được phụ hoàng ủy cho một cao nhân phái Sài-sơn dạy dỗ. Cũng như các đệ tử của phái Sài-sơn, vương được luyện võ, học văn, cùng các học thuật khác bao gồm Nho, y, lý, số. Vương chăm chỉ cần mẫn, nên năm mười tuổi, từ võ công cho đến chính sự, vương bỏ xa các anh em.
     Trong một lần theo sư phụ đến Thiên-trường thăm chưởng môn phái Đông-a, vương gặp đám đệ tử ngang tuổi của phái này, trong đó có Trần Tự-An, Trần Kiệt. Sau hơn tuần ở Thiên-trường, vương kết bạn với năm đệ tử ngang tuổi phái Đông-a. Vương đâu có ngờ, sau này họ thành Đông-a ngũ kiệt.

    Năm mười tám tuổi được phụ hoàng phong tước Nam-quốc vương, cho trấn thủ vùng Vũ-long (Thanh-hoá). Có quyền trong tay, vương không ham hưởng thụ, mà dốc tâm luyện tập võ công, trau đồi văn học.

    Lúc phụ hoàng lớn tuổi, mười hai hoàng tử bắt đầu ngấm ngầm tranh dành để được truyền ngôi vua. Vương rửng rưng, khoanh tay ngồi cao, đứng ngoài. Khi phụ hoàng băng hà, các vương đem quân đánh nhau tranh dành ngôi vua. Cuộc chiến diễn ra trong sáu tháng liền. Kẻ thắng, người bại, cuối cùng Lê Long-Đĩnh giết chết hầu hết các anh, em, chiếm ngôi vua. Nhiều người khuyên vương nên đem quân về triều hỏi tội Lê Long-Đĩnh. Nhưng vương từ chối.

    Theo vương chế cổ, khi một vị vua lên ngôi, thì đặt ra niên hiệu để gọi. Lê Hoàn lên ngôi vua năm Canh-thìn (980) lấy hiệu là Thiên-phúc. Chín năm sau, vào năm Kỷ-sửu (989) cải là Hưng-thống. Năm Giáp-ngọ (994) lại cải là Ứng-thiên.
     Ứng-thiên hoàng đế băng năm Ất-tỵ (1005). Con trưởng là Lê Long-Việt lên ngôi chưa kịp đặt niên hiệu thì bị Long-Đĩnh giết chết.

    Một vị vua khi băng hà, thường quàn áo quan trong ba năm mới chôn. Kể từ khi chết, không dùng niên hiệu gọi nữa, mà gọi là Đại-Hành hoàng đế. Đợi khi vua kế vị lên ngôi, sẽ truy phong tôn hiệu để gọi. Thế nhưng Long-Đĩnh được ngôi vua rồi, không đặt thụy hiệu cho Ứng-thiên hoàng đế, chỉ lo chém giết, ăn chơi, vì vậy cho đến nay Ứng-thiên hoàng đế Lê Hoàn không có tên thụy, mà vẫn gọi là vua Lê Đại-Hành. Đau xót cho vị anh hùng một thời, mà khi chết không có miếu hiệu thờ kính.

    Khi thấy Lê Long-Đĩnh chuẩn bị đem quân vào đánh vương. Với võ công, mưu lược, cùng uy tín, nếu vương đem quân chống cự, ắt diệt được Long-Đĩnh. Giữa lúc đó được tin người Tống chuẩn bị đem quân sang đánh Đại-Việt. Vì sự sống còn của đất nước, vương viết thư cho Long-Đĩnh rồi âm thầm treo ấn, niêm phong kho tàng, lẳng lặng bỏ đi, cải tên, đổi họ đến Vạn-thảo sơn trang lập nghiệp.
   
Chỉ mấy năm sau vương cùng đám bầy tôi thân tín biến Vạn-thảo sơn trang thành một trang trại lớn. Vương nổi tiếng nhờ y học. Nguyên y học của phái Sài-sơn vốn đã có cơ sở từ nghìn năm trước. Đến vương, do năng khiếu đặc biệt, vương trở thành thiên tài y học. Tiếng tăm vương trở thành lừng lẫy. Ngoài trừ người thân, không ai biết vương là con vua Lê. Người đời thấy vương lập nghiệp đưới chân núi Hồng, gọi vương là Hồng-Sơn đại phu.

    Về võ công, phái Sài-sơn do tổ sư là Phù-đổng thiên vương sáng lập di truyền lại. Trải qua nhiều đời, võ công Sài-sơn không dũng mãnh như Tản-viên, tinh diệu như Mê-linh, chính đại như Tiêu-sơn, huyền diệu như Đông-a, nhưng đời nào cũng có nhân tài xuất chúng. Võ đạo phái Sài-sơn lấy đại nghĩa dân tộc làm cơ sở. Hóa cho nên được quần chúng kính phục. Đến đời Hồng-Sơn đại phu, nhờ tinh thâm về y học, ông biến đổi từ nội công đến chiêu thức, nên võ công Sài-sơn lại hưng thịnh hơn lên. Hành tung của ông rất huyền bí, chưa một ai đấu với ông, nên không biết võ công của ông ra sao. Người ta chỉ biết võ công đệ tử ông, rồi suy đoán ra võ công của ông.

    Khi sư phụ của đại phu qua đời, truyền cho đại phu làm chưởng môn phái Sài-sơn. Tuy đại phu làm chưởng môn, nhưng lại không ở tại tổng đàn của phái, mà ở Vạn-thảo sơn trang.
    Người anh Lê Long-Đĩnh của vương ngày càng trở thành ác độc, trói người vào cột đồng, rồi chất củi bên trong cột đốt. Nạn nhân bị cháy da, phỏng thịt kêu thét lên như con thú, rồi chết. Long-Đĩnh đứng xem, khoan khoái cười vui. Trò chơi thứ nhì của Đĩnh là bắt đàn bà chửa giam lại, đem từng người ra, cùng các quan đánh cuộc xem thai nhi là trai hay gái. Sau đó mổ bụng, để định được thua. Trò chơi thứ ba là đóng cọc dưới giòng sông, trói người vào đó, cùng các cận thần ngồi uống rượu, chờ nước lên, khiến nạn nhân chết ngộp dần dần.

    Long-Đĩnh trác táng quá độ, thành bệnh, nằm liệt dường. Khi lâm triều, phải đặt trên một cái giường khiêng đi. Dân chúng gọi là vua Ngọa-triều. Bồ-tát đắc đạo Vạn-Hạnh thiền sư, sai đệ tử về kinh đô Hoa-lư, khuyên răn Ngọa-triều. Ai cũng tưởng thiền sư Vạn-Hạnh là sư phụ vua Lê Đại-Hành, thì lời can gián của ngài hẳn Long-Đĩnh nghe theo. Nào ngờ Long-Đĩnh bắt sứ giả của Vạn-Hạnh thiền sư quỳ gối, rồi để mía lên đầu róc vỏ. Thỉnh thoảng giả bộ lỡ tay, cho dao chém xuống đầu nhà sư. Long-Đĩnh nhìn máu chảy cười khoan khoái.

    Năm Kỷ-dậu (1009) Long-Đĩnh băng. Khi Đĩnh còn tại vị. Y tàn sát tất cả anh, em cũng như con cái họ. Bây giờ y băng, triều đình muốn tìm lấy một người trong giòng họ Lê tôn lên ngôi vua, thì không còn ai cả. Triều đình chia làm hai phe. Một phe cho rằng trước đây vua Lê được tôn lên vì con vua Đinh còn thơ ấu. Nay cũng nên chọn một đại thần có đức đặt vào ngôi báu. Nhân quan Điện-tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn là phó mã của vua Lê Đại-Hành, là con nuôi thiền sư Lý Khánh-Vân, đệ tử Bồ-tát Vạn-Hạnh, tính tình trung hậu, văn võ kiêm toàn thức xứng đáng. Phe này có hữu thân vệ điện tiền chỉ huy sứ Đàm Can, Đô-nguyên soái, Tổng trấn Thăng-long Đào Cam-Mộc.

    Phe thứ nhì không chịu, định tôn đứa con sáu tháng của Long-Đĩnh lên ngôi vua. Hai phe định kéo quân về đánh nhau. Giữa lúc đó lạc hầu Thân Thiệu-Anh, thống lĩnh lực lượng biên phòng phía Bắc tập trung quân, tuyên cáo rằng, nếu triều đình không tôn Lý Công-Uẩn lên làm vua. Ông đem quân về làm cỏ.
    Sợ chiến tranh xẩy ra, Vạn-Hạnh thiền sư giảng hòa bằng cách tạo trao quyền cho Lý Công-Uẩn làm vua. Đợi sau này tìm được con vua Lê, sẽ trả lại ngôi.

    Biết rằng các vua Đinh, Lê, nhờ võ công oanh liệt, mà được ngôi vua. Thuận-thiên hoàng đế chỉ dựa uy tín sư phụ là thiền sư Vạn-Hạnh, lại là phò mã mà đắc vị. Cho nên nhà vua hết sức chăm lo chính sự, giảm thuế, giảm chi, khuếch trương văn học. Nhờ vậy, đân chúng sống trong thanh bình, no ấm như thời vua Hùng, vua An-dương, vua Trưng.
    Hồng-Sơn đại phu thấy Lý Công-Uẩn chiếm ngôi của nhà mình. Ông cũng chẳng thiết cái ngôi vua, vừa lao tâm khổ tứ, vừa bận rộn. Nhưng đi đâu cũng nghe sĩ dân thiên hạ xỉ mạ Ngọa-triều, rồi họ cho rằng con của Đại-Hành hoàng đế đều như nhau. Uất khí, ông mưu trung hưng Lê triều, dùng y đạo trị dân, rửa tiếng nhục cho tổ tiên. Vì vậy ông đào tạo học trò, truyền bá y học, cùng ban ân đức cho dân, chuẩn bị.

    Giữa lúc đó, nhà Tống muốn đánh chiếm các nước phía Nam như Đại-lý, Đại-Việt, Chiêm-thành, Lão-qua, mở mang bờ cõi. Để dò đường, triều đình cử sứ đoàn Triệu Thành xuất hiện với chiêu bài Hưng diệt, kế tuyệt, ý muốn có đội quân người Việt giết người Việt, khi một bị diệt, một suy yếu, tinh lực không còn, Tống đem quân sang chiếm. Triệu Thành định giả lập lại nhà Đinh. Nhưng khi thấy Đinh Toàn tài năng không làm bao, lại chẳng có uy tín gì. Trong khi đó, y biết Hồng-Sơn đại phu chính thị Nam-quốc vương Lê Long-Mang, ơn đức trải khắp Hoa-việt, võ công lại là một trong Đại-Việt ngũ long. Triệu Thành gạt phăng Đinh ra ngoài, đến Vạn-thảo sơn trang tìm Hồng-Sơn đại phu ngỏ ý ấy.

    Là người thông kim bác cổ, đại phu vốn sẵn có tinh thần bài Hoa. Ông chưa quyết định, thì người yêu của ông, Lâm Huệ-Phương xuất hiện. Huệ-Phương tuổi còn trẻ, mà kiến thức thực siêu việt. Nàng trình bầy cho ông nghe tất cả những âm mưu dành dân lấn đất của người Tống ở Bắc-biên. Ông nắm được chủ mưu của Tống: Trước phá tan thành trì 207 khê động của Đại-Việt. Sau đó khích người Việt đánh người Việt trong nước, rồi thừa cơ đem quân vượt biên.

    Ông tỏ ý nghi ngờ thiện ý của triều Tống. Những cái gương cũ còn đó: Thời vua Trưng có thầy trò Lê Đạo-Sinh. Mới đây Kiều Công-Tiễn dẫn quân Nam-Hán vào, cuối cùng đều đi đến kết quả thản khốc. Chính ông trước đã nêu cao chính nghĩa. Ông tuyên bố ai đến ông cũng trị. Ngoại trừ ba loại người, ông cũng trị, nhưng với điều kiện. Một là bệnh nan y, mà các đệ tử ông không trị được. Hai là người Hoa. Ba là con cháu họ Lý.

    Tin Hồng-Sơn đại phu tức Lê Long-Mang tước Nam-quốc vương lan truyền mau lẹ. Chưởng môn phái Đông-a Trần Tự-An đích thân đến Vạn-thảo sơn trang thăm ông. Rồi Trần Kiệt, Phạm Hào đi Tản-viên hỏi ý kiến chưởng môn Đặng Đại-Khê. Đặng Đại-Khê hứa sẽ trả lời trong ngày đại hội võ lâm Đại-Việt. Sở đĩ Đặng chưa dám quyết định, vì trong phái đang có sự tranh chấp.
    Chưởng môn phái Mê-linh, sư thái Tịnh-Tuệ cũng chưa có quyết định rõ rệt. Chỉ có chưởng môn phái Tiêu-sơn, cương quyết giúp họ Lý. Hồng-Sơn đại phu tin rằng, quá phân nửa võ lâm nghiêng về Lê, lại thêm áp lực triều Tống rằng nếu Lý không lùi, thì Tống đem quân sang. Như vậy ắt võ lâm Đại-Việt sợ chiến tranh, ép Lý thoái vị, trả ngôi vua cho Lê.
    Ông tin rằng Lý Công-Uẩn phải thoái vị. Ông dùng nhân đức cai trị dân, sẽ không sợ bọn Tống nữa.
    Hồng-Sơn đại phu chuẩn bị thực chu đáo. Hiện ông có đệ tử khắp nơi. Mỗi người đều mở một y viện chữa bệnh cho dân chúng, gây cảm tình. Mỗi đệ tử lại mở một võ đường huấn luyện thanh thiếu niên.

    Trước đây các võ đường của Sài-sơn thường bị lực lựơng Hồng-thiết giáo cùng lực lượng Hồng-hương thiếu niên của Nguyên-Hạnh chống phá. Từ ngày Triệu Thành đến Vạn-thảo sơn trang, tự nhiên hai lực lượng này đều tỏ ý thân thiện với hệ thống Sài-sơn. Ông đâu có ngờ trong bóng tối, Triệu Thành ra lệnh cho đám trưởng lão gian tế Hồng-thiết giáo cùng Nguyên-Hạnh phải giúp ông, hầu ông quyết tâm hơn.

    Khi về Thăng-long dự đại hội võ lâm Đại-Việt, ông đã âm thầm ra lệnh cho đệ tử các nơi chuẩn bị. Nếu họ Lý không chịu thoái vị, sẽ khởi binh, cơ sở các địa phương nổi dậy chiếm lấy chính quyền, rồi kéo về Thăng-long.
    Tới Thăng-long, ông cùng các đại đệ tử trú ngụ ở y viện Yên-lãng tại Cổ-loa, do đệ tử của tên Hoàng Giang đại phu chưởng quản. Vừa tới nơi, người vợ yêu của ông là Lâm Huệ-Phương xin ông cho phép dẫn Lê Văn đi thăm bà con. Ông tuyệt không ngờ bà con đó là Khai-quốc vương Lý Long-Bồ. Huệ-Phương tới phủ Khai-quốc vương gặp đúng lúc Thiệu-Thái, Thanh-Mai bị nạn. Nàng xin mang hai người đến Cổ-loa trị bệnh.

    Thanh-Mai vừa là con gái chưởng môn phái Đông-a, bạn thân của ông, đương nhiên ông phải tận tình cứu chữa. Hơn nữa Thanh-Mai là đệ tử yêu của ông, vì vậy ông dùng hết khả năng cứu nàng.
    Còn Thân Thiệu-Thái, ông nhận chữa trị, với điều kiện. Bây giờ ông gọi Mỹ-Linh với Thiệu-Thái lên để tuyên bố về điều kiện đó.
     Hoàng Giang đại phu nói với Mỹ-Linh, Thiệu-Thái:
    — Sư phụ tôi cứu thế tử. Điều kiện của sư phụ tôi giản dị thôi: Trong suốt cuộc đời, cả hai vị không được xử dụng võ công chống sư phụ tôi cũng như các đệ tử bản phái trong bất cứ trường hợp nào. Vậy hai vị hãy quỳ trước bàn thờ Quốc-tổ, Quốc-mẫu thề đi.
    Mỹ-Linh nghĩ thầm:
    — Tưởng điều kiện gì khó khăn, chứ điều kiện đó thì dễ quá. Dù Hồng-Sơn đại phu không bắt tuyên thệ, chỉ nguyên đại phu trị bệnh cho Thanh-Mai thôi, mãn đời mình cũng chẳng dám vô phép với đệ tử của người.
    Hai người thắp hương, quỳ gối trước bàn thờ Quốc-tổ, Quốc-mẫu khấn:

    " Đệ tử Lý Mỹ-Linh, Thân Thiệu-Thái xin tuyên thề trước bàn thờ Quốc-tổ, Quốc-mẫu rằng trọn đời không bao giờ dám chống lại Hồng-Sơn đại phu cũng như phái Sài-sơn trong bất cứ hoàn cảnh nào. Nếu đệ tử sai lời, sẽ chết dưới muôn nghìn đao, kiếm."

    Hồng-Sơn đại phu cười rất tươi, ông gật đầu:
    — Không ngờ Lý Công-Uẩn lại có những đứa cháu thông minh, mẫn tiệp, trọng lời hứa như vậy.
    Dương Bình bảo Mỹ-Linh:
    — Thôi, bệnh thế tử khỏi rồi. Xin công chúa đem thế tử về thôi.
    Thiệu-Thái, Mỹ-Linh hành lễ, rồi ra đi...
    Hồng-Sơn đại phu hỏi:
    — Sư mẫu với Thanh-Mai đâu?
    Dương Bình thưa:
    — Sư mẫu với sư muội đang ở nhà thủy tạ. Để đệ tử mời về.
    Dương Bình ra một lúc, trở về cùng với Huệ-Phương, Thanh-Mai. Hồng-Sơn đại phu đứmg dậy đón Huệ-Phương, mời nàng ngồi. Ông trịnh trọng nói:
    — Hôm nay ta mời phu nhân cùng đến họp với các vị đệ tử, để chuẩn bị đại hội võ lâm Đại-Việt trong ba ngày nữa. Kiến thức phu nhân quảng bác, ta mong phu nhân sẽ giúp ta phục hồi nghiệp lớn của tổ tiên. Ở đây ta có chín đại đệ tử, cùng Thiếu-Mai, Thanh-Mai mười một. Chúng ta duyệt lại tình hình lần cuối cùng trước khi thực hành.
    Ông cầm tay Thanh-Mai bắt mạch, rồi bảo Thiếu-Mai:
    — Con cho sư tỷ uống thang thứ mấy rồi.
    — Thưa bố, sư tỷ uống thang thứ ba rồi.
    Ông tát yêu Thanh-Mai:
    — Từ lâu ta mong tìm một con bé thông minh, lanh lợi, lại có kiến thức rộng, nhất là lòng nhân đạo, để truyền nghiệp. Hà... không ngờ anh ta, sư huynh Tự-An lại có đứa con gái bảo bối này. Hôm trước bố con mới tới đây cùng sư thúc của con. Lâu ngày chúng ta mới gặp nhau. Gớm, bố của con xưa sao, nay vẫn vậy, ngang ngược không coi ai ra gì.
    Thanh-Mai nghe sư phụ phê bình bố, nàng bật cười:
    — Tự lâu lắm sư phụ không gặp bố con, rồi cứ tưởng bố con thay đổi. Bố con nhu nhã, thực là nhu nhã, khi ngang tàng, dù là Ngọc-Hòang đại đế, Diêm-La lão tử, người cũng ngang. Không biết hồi trẻ bố con có ngang quá ghẹ như hiện nay không?
    Hình ảnh thời thơ ấu sống lại với Hồng-Sơn đại phu. Bấy giờ ông mới mười hai tuổi. Sư phụ của ông dẫn ông đến Thiên-trường thăm chưởng môn phái này tên Trần Trí-Đức. Trước khi đi, phụ hoàng căn dặn ông rằng:

 " Đại hiệp Trần Trí-Đức là một hào kiệt hiếm có của nước Việt mình. Khi ta tiếp sự nghiệp vua Đinh, người định kéo đệ tử về Hoa-lư hỏi tội ta. Ta những tưởng nội chiến khó tránh khỏi. Không ngờ trên đường về Hoa-lư, khi nghe quân Tống kéo sang, người dừng lại, cho sứ đến gặp ta, để bàn truyện đánh Tống. Chính người suất lĩnh đệ tử phái Đông-a phụ trách mặt trận Bạch-đằng. Thắng Bạch-đằng, người lên Chi-lăng tiếp viện với ta. Sau khi giặc hết, người bảo ta :Đáng lẽ tôi hỏi tội nhà vua về việc đoạt ngôi của con vua Đinh. Song bây giờ nhà vua đã thắng giặc Tống, sĩ dân đều phục, tôi không có lý do gì hỏi tội nữa. Mong nhà vua lấy đức trị thiên hạ như vua Hùng, vua An-Dương, vua Trưng."
 Ta tôn phong vương tước, người chối. Vậy con tới Thiên-trường cần khéo léo học hỏi, kết thân với những đệ tử phái Đông-a ngang tuổi, học lấy điều hay.
    Khi tới Thiên-trường, ông được làm quen với năm thiếu niên cùng tuổi Trần Tự-An, Vũ Anh, Hoàng Hùng, Phạm Hào, Trần Kiệt. Năm người với ông như quen nhau từ thủa nào. Gặp nhau là thân, không muốn rời nhau. Khi luyện võ, khi hái hoa quả ăn, khi nhảy xuống sông tắm, nô đùa với nhau. Thế rồi họ kết làm huynh đệ.

    Sau hơn tháng ở Thiên-trường. Ông trở về với ngôi hoàng tử. Khi được phong tước Nam-quốc vương, tổng trấn vùng Thanh-hóa, ông viết thư sai người mời năm vị nghĩa huynh, nghĩa đệ đến dự lễ tấn phong. Nhưng đúng thời gian đó, đại hiệp Trần Trí-Đức qua đời, nên các đệ tử phải cư tang không đi được. Vương đành sai người đến điếu tang. Sau đó những biến cố dồn dập diễn ra, vương cùng Thiên-trường ngũ kiệt không được gặp nhau.

     Cho đến ngày Lê Long-Đĩnh đem quân đánh Thanh-hóa, vương xấu hổ, ẩn danh, đến nay mới xuất hiện. Cái đặc điểm là trong thời gian ẩn thân, ông theo dõi rất kỹ hành trạng của võ lâm, của Thiên-trường ngũ kiệt. Thiên-trường ngũ kiệt ngược lại, không biết tin tức gì của ông. Họ không thể nào tưởng tượng nổi Hồng-Sơn đại phu với Lê Long-Mang là một.

    Thanh-Mai được bố cưng chiều rất mực, nhưng chưa bao giờ được nghe bố kể lại cho nghe về thời thơ ấu của ông. Nàng biết Hồng-Sơn đại phu thương yêu đệ tử như con, nên nàng tò mò hỏi:
    — Sư phụ. Hồi xưa bố con ngang lắm hả?
    — Nếu nói rằng ngang, cũng thực ngang. Nói rằng tình cảm cũng thực tình cảm. Đại ca của ta, hà... hà ... không nghe lời bất cứ ai, ngoại trừ bạn với đệ tử. Hôm trước người với Vũ Anh tới đây, mà không báo trước.

    Ông kể đến đó, Thanh-Mai thấy nét mặt các sư huynh đều cười nửa miệng. Nàng đoán bố mình đã làm một cái gì lạ lùng lắm, để lại trong lòng họ một kỷ niệm vui. Nàng hỏi Hoàng Giang:
    — Sư huynh! Bố em đã làm gì?
    Hoàng Giang bật cười:
    — Sư muội đã biết trong Vạn-thảo sơn trang của chúng ta chia ra ba khu rõ rệt. Một là khu Văn-lang trong đó có điện Kinh-dương. Hai là khu Âu-lạc trong đó có điện Âu-cơ. Bà là khu Lĩnh-nam, trong đó có các vùng Nam-hải, Quế-lâm, Tượng-quận, Giao-chỉ, Cửu-chân, Nhật-nam. Trong điện Kinh-dương, sư phụ tạc tượng Tam-hoàng thờ. Sư muội có biết Tam-hoàng của ta với của Trung-quốc khác nhau thế nào không?
    Thanh-Mai nheo mắt:
    — Sư huynh làm như em con nít không bằng. Trong trang của bố em cũng thờ Tam-hoàng. Người Việt mình thờ Tam-hoàng có hai quan niệm. Một là Phục-Hy, Thần-Nông và Kinh-Dương. Hai là Kinh-dương, An-dương, Nhị-Trưng. Hôm đầu tiên đến Vạn-thảo sơn trang, thấy trong điện Kinh-dương thờ Kinh-Dương, An-Dương, Nhị-Trưng. Còn Tam-hoàng của Trung-quốc là Phục-Hy, Thần-Nông, Hoàng-Đế. Ta với Trung-quồc cùng tổ Phục-y, Thần-Nông. Triều đại Thần-Nông thứ tư trở đi, tức vua Đế-Minh mới chia ra làm hai. Bắc là vua Đế-Nghi tức Trung-quốc. Nam là vua Kinh-dương tức Đại-Việt mình.
    Hoàng Giang thấy cô sư muội thông kim bác cổ, ông kinh sợ:
    — Xin lỗi sư muội. Ta quên mất sư muội là con gái cưng của chưởng môn phái Đông-a nổi tiếng bác học. Để ta tiếp, Trong điện Kinh-dương sư phụ tạc tượng Tam-hoàng, xếp ngồi ngang nhau. Hai bên, mỗi bên người để tượng ba người, theo tư thế đối diện nhau. Tổng cộng sáu tượng. Đó là tượng Thiên-trường ngũ kiệt với sư phụ. Ý sư phụ muốn Thiên-trường ngũ kiệt với người lúc nào cũng phải noi gương Tam-hoàng.
    Đến đây ông bật cười:
    — Sáng hôm đó, ta cùng mấy sư huynh đệ lên điện Kinh-dương lễ. Như thường lệ ta cho đặt xôi, gà, trái cây lên bàn thờ, rồi xì xụp lạy. Sau khi lễ, ta ngồi đọc sách. Ta đọc được mấy trang, thấy con gà trên bàn thờ biến mất. Hai đĩa xôi chỉ còn một nửa. Hai tượng đang ăn xôi, tay cầm đùi gà nhai tóp tép.
    Hoàng Giang kể đến đó, từ Hồng-Sơn đại phu cho đến các đệ tử đều cười lăn cười lộn.
    — Ta kinh hoàng, mở to mắt nhìn, thấy tượng của thân phụ sư muội và tượng của sư thúc Vũ Anh đang xơi thịt gà với xôi. Ta cho rằng hai vị chết rồi hiện hồn về, vội quỳ xuống khấn : Sư bá, sư thúc hẳn qua đời rồi, nay linh thiêng về chứng giám. Xin anh linh hai vị chờ một lát. Đệ tử thỉnh sư phụ đến. Sư phụ đệ tử nhớ hai vị lắm. Tượng sư thúc Vũ Anh nói : Hay lắm, người mau đi gọi sư phụ đến. Vì chúng ta từ trên Thiên-cung chỉ giáng hạ có một lúc thôi. Ta chưa kịp đi mời, thì sư phụ đã tới. Người nhảy xổ lên, ôm lấy thân phụ sư muội, rồi hai vị khóc như trẻ con.
    Thanh-Mai không biết bố đã ước hẹn gì với Hồng-Sơn đại phu. Nàng vờ hỏi:
    — Sư phụ! Bố con tới chơi mấy ngày rồi lại đi?
    — Sư huynh ta ở lại mười lăm ngày. Trong mười lăm ngày, hai ta bàn truyện làm thế nào cho nước giầu dân mạnh. Làm thế nào để nước Việt mình vĩnh viễn không sợ người Hoa sang chiếm. Chúng ta phác họa chương trình bốn giai đoạn. Hôm nay ta loan báo cho phu nhân cùng các đệ tử biết.
    Ông đưa măt nhìn Dương Bình:
    — Con trình bầy bốn giai đọan đi.
    — Giai đọan thứ nhất, chiếm lại quyền trị nước từ họ Lý. Sư phụ tạm giữ quyền cai trị.
    Thanh-Mai đưa mắt nhìn Huệ-Phương. Hai người như cùng ý nghĩ:
    — Hỏng to rồi. Hai ông này mà hợp lại e nghiêng nước mất. Không biết chàng phản ứng ra sao?
    — Giai đoạn thứ nhì, liên kết võ lâm Chiêm-thành, Chân-lạp, Lão-qua, Xiêm-la, Đại-Việt, Đại-lý, Mân-Việt tức các vùng Quảng-đông, Quảng-tây, Vân-nam. Tổ chức đại hội anh hùng, bầu người thủ lãnh. Như xưa kia đã bầu vua An-dương thời Âu-lạc vua Trưng thời Lĩnh-nam.
    Thanh-Mai hỏi:
    — Như vậy sư phụ không làm vua nữa sao?
    Hồng-Sơn đại phu dơ bàn tay làm hiệu gõ vào đầu Thanh-Mai:
    — Con bé này! Mi chỉ biết kính, biết yêu sư phụ, mà không hiểu sư phụ tý nào cả.
    Thanh-Mai chù mỏ ra:
    — Con có gần sư phụ nhiều đâu mà biết. Bố con cũng mới tìm được sư phụ, nên trước đó đâu biết gì mà dạy bọn con.
    Thiếu-Mai ôm lấy vai Thanh-Mai:
    — Đúng đấy. Để em nói về bố cho Thanh-Mai biết. Này Thanh-Mai. Nếu bố Thanh-Mai chủ trương tiêu dao với cỏ cây. Nhưng khi nước hữu sự lại xách gươm bảo vệ. Thì ngược lại bố em chủ trương, trước hết đòi quyền hành từ kẻ vô tài bất đức tức họ Lý lại, để rửa tiếng xấu rằng họ Lê không phải toàn như bác Ngọa-triều. Sau đó đại hội võ lâm anh hùng thiên hạ, cử người tuấn kiệt ra lãnh đạo. Bấy giờ bố em sẽ phủi tay vui với cỏ cây như Nghiêm Tử-Lăng thời vua Trưng. Chứ bố em đâu có thích làm vua!
     Huệ-Phương tiếp:
    — Tôi với phu quân cùng một ý nghĩ. Làm vua như bác Long-Đĩnh mới sướng thân xác nhưng làm nhục tổ tiên, làm cho nước khổ, dân nghèo. Còn làm vua, mà phải lo cho nước giầu dân mạnh thì đâu có sướng? Làm vua bất quá được dân kính sợ trước mặt, nhưng không biết người ta giết lúc nào. Còn Hồng-Sơn đại phu hiện khắp thiên hạ đều cảm đức, thì làm đại phu hơn làm vua. Thứ nhì, làm vua bất quá nhiều tiền, nhiều của, nhưng cũng đến ngày ba bữa. Vì vậy cho nên sau khi đại hội anh hùng thiên hạ xong, lập tức lui về ngao du thắng cảnh đất nước.
    Thanh-Mai hỏi:
    — Sư phụ, giả như có người nào đó, được anh hùng thiên hạ phục vì đức, vì tài. Người đó nguyện gánh nhiệm vụ đòi ngôi vua nhà Lý. Sư phụ có lui lại, để người đó hành sự không?
    Hồng-Sơn đại phu nói:
    — Lui, lập tức ta lui. Nếu có người như vậy, bố cháu cũng lui. Nhưng hiện giờ ta chưa thấy ai có khả năng đó.
    Thanh-Mai nhìn Huệ-Phương, nàng thấy Huệ-Phương nháy mắt, ý muốn ngăn cản nàng nói về Khai-Quốc vương. Nàng vội vàng ngừng lại, nói lảng:
    — Sư huynh! Giai đoạn ba là gì?
    — Giai đoạn ba, cùng vị vua Đại-việt mới bầu lên hết sức khuếch trương văn học, thao luyện võ công, dẫn dắt dân chúng canh tác. Chỉ ít năm sau nước giầu dân mạnh. Bấy giờ chuyển sang giai đọan thứ tư, liên kết với các nước Liêu, Kim, Tây-hạ, Thổ-phồn cùng tiến công tiêu diệt Tống. Cắt Tống làm nhiều mảnh. Đại-việt không chiếm đất Tống, mà chỉ đòi lại đất nước như hồi Lĩnh-nam, tức nay gồm Lưỡng-Quảng, Đại-lý.
    Dương Bình tiếp:
    — Chúng ta đang ở giai đoạn một. Chỉ còn mấy ngày nữa, đại hội anh hùng võ lâm Đại-việt. Trước đây, khi vua Ngọa-triều băng, con còn thơ ấu. Sư phụ lại qui ẩn, cho nên Vạn-Hạnh thiền sư mới đề nghị cho Lý Công-Uẩn lên tạm quyền. Võ lâm im lặng, không có phản ứng gì. Nay sư phụ xuất hiện. Chúng ta có nguyên một phái Sài-sơn, người nhiều, đức thịnh. Lại được phái Đông-a, người còn nhiều hơn, hết sức hỗ trợ. Gần đây, không hiểu sao, bọn Hồng-Thiết giáo tự nhiên cũng cho người về qui phục. Bọn này tuy tà môn, nhưng chúng cũng có quá khứ yêu nước. Hôm rồi, Nguyên-Hạnh đại sư ở chùa Sơn-tĩnh cử người về tỏ ý hoan hô sư phụ đòi lại ngôi vua. Đại sư Nguyên-Hạnh ngang vai với quốc sư Minh-Không, trị sự trưởng chùa Sơn-tĩnh, thống lĩnh mấy vạn thiếu niên Hồng-hương.
    Thanh-Mai nghe nói lạnh người. Vì nàng biết rằng Thuận-thiên hoàng đế hoàn toàn dựa vào phái Tiêu-sơn để được làm vua. Mà chi nhánh của Tiêu-sơn là Sơn-tĩnh. Lực lượng Sơn-tĩnh có tổ chức Hồng-hương thiếu niên, rất đông đảo. Nguyên-Hạnh qui phục Hồng-sơn, tức phản phái Tiêu-sơn. Như vậy coi như lực lượng Tiêu-sơn còn có một nửa.
    Dương Bình chờ cho cử tọa im lặng, tiếp:
    — Lý Công-Uẩn dựa vào 207 khê động Bắc-biên do con gái làm vua Bà cai trị. Nhưng trong 207 Khê-động đó, sắc dân Nùng mạnh, đông hơn cả. Nùng Dân-Phú, đứng trên hết thống lĩnh mười châu Quảng-nguyên. Dưới có con tên Nùng Tồn-Phúc thống lĩnh châu Thảng-do. Nùng Tồn-Lộc thống lĩnh châu Vạn-nhai. Cháu tên Dương-Đạo thống lĩnh châu Tả-giang. Y còn có đệ tử tên Lý Tự thống lĩnh châu Thất-nguyên. Uy tín Dân-Phú muốn lấn át vợ chồng Thân Thừa-Qúi. Hôm rồi, cha con Dân-Phú cũng thân đến Vạn-thảo sơn trang xin qui phục.
    Thanh-Mai tuy bề ngoài im lặng, mà trong lòng than thầm:
    — Hỏng bét. Làm sao bây giờ?
    — Trong lúc anh hùng đại hội, sư phụ xuất hiện, đặt vấn đề với đại sư Minh-Không chùa Tiêu-sơn về vấn đề chính thống của ngôi vua Đại-việt. Bấy giờ võ lâm anh hùng đều lên tiếng đòi Lý Công-Uẩn thoái vị. Nhân đó sư phụ cũng hứa để cho họ Lý vẫn được an toàn.
    Huệ-Phương hỏi Hồng-sơn đại phu:
    — Anh. Em có thắc mắc. Tỷ dụ Lý Công-Uẩn không chịu thoái vị. Không lẽ bấy giờ anh hùng thiên hạ chia hai, phe ủng Lý đánh nhau với phe ủng Lê. Thế thì Đại-việt tan nát hết. Chúng ta có thắng thế, mà võ lâm mười phần chết tám chín, còn hy vọng gì nước giầu, dân mạnh, để đòi đất cũ?
    Dương Bình kính cẩn:
    — Thưa sư mẫu, trong kế hoạch đã dự trù điều đó. Hôm trước Bình-nam vương nhà Tống có đến đây. Vương gia hứa trong lúc đại hội võ lâm, phía Nam quân Chiêm kéo đến biên cương. Phía Tây quân Lào ép vùng Thanh-hóa. Phía Bắc đại quân Tống đóng trọng binh ở Ung, Liêm châu. Ngoài khơi chiến thuyền đậu ở Nam-hải. Nếu Công-Uẩn không lui, khó giữ được ngôi.
    Huệ-Phương lắc đầu:
    — Khó lắm. Tôi sợ một mặt Lý không lùi. Võ lâm Đại-Việt đang giết nhau, phương Nam quân Chiêm, Lào tiến vào. Bắc quân Tống kéo sang, chúng ta thành Lê Đạo-Sinh thời Lĩnh-nam mất.
    Nàng nghiêng khóe mắt phụng, hướng khuôn mạt tươi như hoa nhài ban mai:
    — Anh ơi! Mình mưu cầu cho nước giầu dân mạnh, mà lại dựa trên bọn gian xảo nhà Tống, bọn hèn hạ Chiêm, Lào, còn chi thể diện con cháu vua Hùng, vua An-Dương, vua Trưng?
    Hồng-Sơn đại phu thấy kiến thức vợ mình quả không tầm thường. Bà trông rộng nhìn xa muốn hơn ông. Ông cúi đầu suy nghĩ một lúc, rồi nói:
    — Ta chỉ ép Lý. Nhưng cho Lý một thời gian ba tháng suy nghĩ. Như vậy võ lâm Đại-Việt không thể chém giết nhau.
    Thanh-Mai xen vào:
    — Trong thời gian suy nghĩ đó, nếu quân Tống, Chiêm, Lào sang thì sao?
    Hồng-Sơn đại phu thở dài:
    — Trường hợp đó, ta theo gương nội tổ cháu. Tất cả ngừng tranh chấp, đuổi Tống, diệt Chiêm trước đã.
    Huệ-Phương mỉm cười:
    — Như vậy anh mới xứng đáng đứng trong Đại-Viêt ngũ long, anh hùng thiên hạ đều qui phục.
    Huệ-Phương hỏi chồng:
    — Hôm rồi anh trị cho Thiệu-Thái. Anh có bắt Mỹ-Linh, Thiệu-Thái phải theo mình, chống lại Lý không?
    Hồng-Sơn đại phu lắc đầu:
    — Trước khi trị, anh bắt chúng hứa rằng sẽ làm bất cứ việc gì anh sai khiến. Chúng đã tuyên thệ. Sau khi trị khỏi bệnh rồi, Hoàng Giang định bắt chúng tuyệt đối tuân theo mệnh lệnh của anh trong việc đòi ngôi vua từ Lý. Nhưng nghĩ lại, mình đường đường là đại tôn sư, lấy đức trị người, lấy y đạo cứu người, mà lại bắt cháu chống ông, thực quả là đồ bất nhân. Như vậy anh hùng thiên hạ, ai theo mình? Cho nên, anh chỉ bắt chúng thề không được chống mình là đủ.
    Huệ-Phương nắm tay chồng, ánh mắt nàng chan chứa tình cảm, nhưng long lanh như hạt sương sớm. Mặt nàng tươi như hoa hải đường:
    — Em có ông chồng đạo đức như vậy, thực không uổng tấm nhan sắc.
    Thiếu-Mai hỏi Thanh-Mai:
    — Sư tỷ. Sư tỷ định dự đại hội võ lâm với phái Sài-sơn hay phái Đông-a?
    Thanh-Mai đưa mắt hỏi ý kiến sư phụ. Hồng-sơn đại phu vẫy tay:
    — Con phải trở về với phái Đông-a ngay. Bố con đang mong đợi con lắm đó. Bố cũng như bốn chú con đều lo lắng về tình hình sức khỏe của con. Vậy con nên về cho sớm. Ngày mười rằm ta sẽ gặp con.
   
Tan họp, Huệ-Phương dắt Thanh-Mai dạo chơi khu trồng hoa của y viện Yên-Lãng. Hai người đẹp đi giữa muôn hoa tươi thắm, tà áo bay phầt phới. Nhìn trước nhìn sau không có ai, Huệ-Phương nói nhỏ vào tai Thanh-Mai:
    — Thanh-Mai này. Truyện mình với Khai-quốc vương, Thanh-Mai biết rồi chứ?
    Thanh-Mai đáp nhỏ:
    — Khi Thanh-Mai về Thăng-Long, mới được vú Tú thuật cho biết. Thực sự, chàng gặp phu nhân là yêu ngay. Say đắm phu nhân. Yêu phu nhân, chàng muốn phu nhân hạnh phúc. Nhưng giữa cái ích kỷ nhắm mắt hưởng thụ, với cái tạo hạnh phúc cho phu nhân, chàng chọn lối hành động thứ nhì.
    Huệ-Phương nắm chặt tay Thanh-Mai:
    — Em thực có diễm phúc. Trước khi về với phái Đông-a, em phải gặp chàng trước, cho chàng biết hết tình hình. Bọn Tống mưu đồ sâu sa lắm. Hiểm độc không chừng. Chúng chỉ mong sao cho võ lâm Đại-Việt chém giết nhau, tinh lực yếu đi. Ta biết hết. Ta tuy làm vợ đại phu, nhưng không dám nói thực âm mưu bọn Tống ra. Nói chưa chắc chàng tin, mà có khi chàng còn nghi ngờ nữa.
    — Ý phu nhân muốn nói???
    — Dù đại phu thiết kế sao, cũng nằm trong việc Tống mưu cướp nước mình. Bọn mình tuy phận gái. Song đạo lý tộc Việt định: Khi nước hữu sự, trách nhiệm gái trai chung. Hai ta phải nắm lấy vụ này.
    Nàng ngửa mặt nhìn trời:
    — Đây thuộc âm mưu cướp nước của bọn Tống. Một mặt chúng cho Dương-Bá tức Nguyên-Hạnh trường kỳ mai phục ở phái Tiêu-sơn chạy theo đại phu. Như vậy phái Tiêu-sơn bị chia hai. Một mặt, chúng lôi kéo bọn Nùng Dân-Phú, chia đôi lực lựơng Bắc-biên theo đại phu. Ta sợ, giờ phút trót, phái Mê-linh, Tản-viên cũng khó tránh khỏi nạn chia rẽ. Đương nhiên giữa anh hùng đại hội, phu quân ta cùng Thiên-trường ngũ hiệp ép Lý Công-Uẩn thoái vị, sẽ được anh hùng thiên hạ theo. Võ lâm chia hai đánh nhau. Cuối cùng, Lý cho giáp sĩ xuất hiện. Thắng hẳn về Lý. Lý thắng, sẽ lệnh cho các quan địa phương tiêu diệt hạ tầng cơ sở Sài-sơn, Đông-a, Sơn-tĩnh, Nùng Dân-Phú. Các nơi kia trước thế nguy phải chống lại. Thế là trên toàn quốc có chiến tranh tự diệt. Đợi cho hai bên kiệt quệ, bấy giờ Tống chỉ cho một đạo quân sang... Cái nạn mất nước sao thoát khỏi?
    Thanh-Mai rùng mình tỏ ý cương quyết:
    — Như vậy em phải khuyên chàng nên lui hay sao? Nghĩa là chàng không nên dùng giáp sĩ, cố tránh nạn võ lâm tương tàn?
    — Ý chị không phải thế. Chị muốn nói rằng, em khuyên chàng nên có hành động thích hợp mà thôi.   

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái bái tạ Hồng-Sơn đại phu, rời y viện Yên-lãng lên đường về Thăng-long.
    Mỹ-Linh đã hẹn gặp Huệ-Phương nói truyện với nhau, nhưng bây giờ nàng không thấy Huệ-Phương đâu, đành cùng Thiệu-Thái ra về.          Lần đầu tiên Mỹ-Linh được đi ra ngoài tự do một mình. Hai người rời y viện Yên-lãng, đi dọc theo bờ sông. Mỹ-Linh hỏi Thiệu-Thái:
    — Từ đây đến chỗ đóng của đạo quân Đằng-hải không xa. Chúng mình tới đó đưa thẻ bài của chú hai ra, mượn hai con ngựa, về Thăng-long.
    Thiệu-Thái nói nhỏ:
    — Ngàn năm một thủa chúng mình được đi chơi thế này, anh em mình thuê xe ngựa trở về thích hơn. Chúng ta ra chợ Cửa-Bắc ăn quà đi.
    Nghe nói đến ăn quà, mặt Mỹ-Linh tươi lên:
    — Ừ nhỉ, nhưng em không mang theo tiền.
    Thiệu-Thái sờ tay vào túi, may quá, trong túi có một đĩnh bạc, chàng nói:
    — Một đĩnh bạc này, đủ cho hai anh em mình ăn quà đến một tháng.
    Chợt nhớ ra điều gì, Mỹ-Linh nói nhỏ:
    — Thôi không ăn quà nữa, về mau. Trễ, chú hai không lột da, cũng đánh què.
    Thiệu-Thái cười:
    — Em thông minh thì thông minh thực, nhưng không hiểu thấu ý cậu hai. Tại sao lúc đi, cậu lại bắt anh em mình mặc quần áo nâu như con nhà nông dân? Đó, cậu đã dự trù trường hợp chúng mình lẫn vào dân chúng, không ai chú ý. Tức cậu hai cho phép chúng mình đi ăn quà.
    Hai người vượt qua xóm Thượng, đến cửa Bắc. Chợ Cửa-Bắc đang ngày phiên, dân chúng các vùng xung quanh như Uy-nỗ, Dục-nội, Dục-tú, Cương-nỗ, Kính-nỗ kéo nhau về buôn bán.
    Thiệu-Thái đã từng ra ngoài, kinh nghiệm nhiều, chàng dẫn Mỹ-Linh len lỏi vào chợ, qua khu bán tơ, vải, đến khu bán ngũ cốc. Hết khu ngũ cốc, đến khu hàng quà. Khu hàng quà họp trong bốn cái đình. Các bà bán quà thấy một cặp thiếu niên ăn mặc như trẻ con nhà quê. Họ tuyệt không ngờ đó là công chúa, thế tử.
    Mỹ-Linh thấy hàng bún ốc, nàng thèm quá, kéo áo Thiệu-Thái:
    — Anh ơi, ngồi đây đi.
    Hai người ngồi xuống hai cái ghế thấp. Cô hàng bún ốc đon đả mời:
    — Cô cậu xơi bát to hay bát nhỏ.
    Thiệu-Thái biết người yêu tham ăn, mà dạ dày lại nhỏ quá, chàng nói:
    — Chị cho tôi hai bát nhỏ.
    Cô hàng bốc bún bỏ vào bát, lấy đũa gắp rau thơm, rau muống chẻ nhỏ như sợi tóc, ngâm nước cong queo để lên trên bún. Cô gắp thêm tý mắm tôm, ba lát ớt, rồi múc ốc trong nồi bằng đồng, đang đun sôi sục đổ lên trên. Nước nấu ốc có váng mỡ vàng ngậy, tẩm ngay vào những sợi bún.
    Thiệu-Thái, Mỹ-Linh bưng bát bún ốc ăn. Mỹ-Linh hỏi:
    — Chị ơi, rau thơm ăn bún ốc bắt buộc phải là kinh giới, tía tô với ngổ hay sao, mà chị không cho húng?

Yên Tử cư sĩ Trần Đại Sỹ

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét