Hiển thị các bài đăng có nhãn Trang sử quý. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trang sử quý. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 15 tháng 12, 2013

Biển ơi, Biển đã phụ Người

Mường Giang
Dựa theo các nguồn sử liệu hiện nay, khi viết về nguồn gốc của dân tộc VN, đều cho rằng Người Việt là một trong những dân tộc dũng cảm và thông minh nhất trên thế giới, vì đã được hưởng nhiều đặc tính quý báu của các chủng tộc pha trộn. Họ là hậu duệ của nòi giống Mông Cổ, Bách Việt và Nam Á Ða Ðảo.. qua quá trình thiên di từ Trung Á tới đồng bằng Bắc Việt. Nhờ vậy suốt dòng lịch sử mấy ngàn năm, tổ tiên ta mới đương đầu nổi với nhiều cuộc xâm lăng diệt chủng của Tàu, Chiêm Thành, Lào-Thái, Cao Mên, thực dân Pháp-Nhật và nay là chủ nghĩa vô thần của đảng cọng sản đệ tam quốc tế. Bởi thế ngay từ buổi bình minh dựng nước, người Việt rất thạo thủy chiến, quen dùng thuyền, thời gian sống trên cạn ít hơn dưới nước, vì biển rạch sông hồ, vốn là những nơi chốn thân thương của linh hồn đất Việt.
Chúng ta là con cháu của Lạc Long Quân và Mẹ Âu Cơ, theo cha ra biển và lâp thành nước Văn Lang, có nền văn minh phát triển từ sông nước. Do trên ngoài nông nghiệp, việc khai thác hải sản trên sông biển, vẫn là tiềm năng kinh tế muôn đời của dân tộc.

Thứ Sáu, 23 tháng 11, 2012

Ngô chí sỹ: bậc đại nhân, đại trí, đại dũng

Nguyễn Thu Trâm

Ngô Tổng Thống Muôn Năm
Đối với phần lớn người từ miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 thì sự kiện ngày 01 tháng 11 năm 1963 mãi mãi là một cơn ác mộng, Nhất là bản tin ngắn được phát đi vào khoảng 10 giờ sáng ngày 02 tháng 11, loan báo về cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu đã thực sự làm suy sụp tinh thần của hầu hết đồng bào di cư, nhất là đồng bào công giáo. Đối với hầu hết người Bắc di dân thì cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và sự cáo chung của nền Đệ Nhất Cộng Hòa là một hồi chuông báo tử cho nền cộng hòa ở miền Nam. Những giáo dân di cư, trong đó có cả ông tôi, đã mường tượng một ngày quân đội cộng sản tiến vào Sài gòn, và một cuộc “di cư” nữa để lánh nạn cộng sản sẽ diễn ra sau đó. 

Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2012

Viết cho ngày 01 tháng 11

Đối với phần lớn người từ miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 thì sự kiện ngày 01 tháng 11 năm 1963 mãi mãi là một cơn ác mộng, Nhất là bản tin ngắn được phát đi vào khoảng 10 giờ sáng ngày 02 tháng 11, loan báo về cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu đã thực sự làm suy sụp tinh thần của hầu hết đồng bào di cư, nhất là đồng bào công giáo. Đối với hầu hết người Bắc di dân thì cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và sự cáo chung của nền Đệ Nhất Cộng Hòa là một hồi chuông báo tử cho nền cộng hòa ở miền Nam. Những giáo dân di cư, trong đó có cả ông tôi, đã mường tượng một ngày quân đội cộng sản tiến vào Sài gòn, và một cuộc “di cư” nữa để lánh nạn cộng sản sẽ diễn ra sau đó.
Ngô Tổng Thống Muôn Năm

Cuộc di cư vĩ đại chạy trốn Cộng Sản 1954 - 1955

Bài này trích trong quyển "Chính Biến 1-11-1963 & TT Ngô Đình Diệm" của tác gỉa Ngô Đình Châu, do nhà báo THẰNG MÕ San Jose xuất bản năm 2009, nơi trang 56 với tiêu đề: 
 
     Cuộc di cư vĩ đại chạy trốn Cộng Sản 1954-1955
 
Trong những năm đầu tiên của chế độ, khi toàn dân cùng với chính quyền bắt tay vào việc xây dựng đất nước, thì đã gặt hái được những thành quả ngoạn mục như sau: 
Trước hết là việc chuyên chở và định cư cho hơn 900.000 người di cư, trong đó có gần 700.000 người Công giáo. Việc chuyên chở người di cư từ Bắc vào Nam được kế hoạch và sử dụng phương tiện chuyên chở của Pháp và Mỹ. 

Thứ Sáu, 19 tháng 10, 2012

Những sự thật cần phải biết: - Việt Nam Cộng Hòa - Nạn nhân của chính sách “Ngậm máu phun Người”

(HÀM HUYẾT PHÚN NHƠN TIÊN Ô TỰ KHẨU !)



Đặng Chí Hùng (Danlambao) - Thưa các bạn, là một người trẻ tuổi, chưa một lần được biết đến ngôi trường của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), cũng chưa từng được sống dưới chế độ tự do non trẻ đó, tuy nhiên qua nhiều sách báo, tài liệu và nhân chứng sống, cộng với những suy nghĩ của mình, tôi nhận thấy một điều đó là một chế độ, một nhà nước khác hẳn với những lời tuyên truyền của cộng sản. 

Thứ Ba, 28 tháng 8, 2012

Provincial Reconnaissance Units

Kính thưa tất cả quí niên trưởng, quí chiến hữu và tất cả các đồng hương,
Bài viết dưới đây của cá nhân chúng tôi dựa vào một ít tài liệu cho các thân hữu Úc chuyển cho. Chúng tôi tin rằng nó khá chính xác nhưng chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Hơn nữa, trong thời gian phục vụ trong quân đội, chúng tôi không hề phối hợp với các đơn vị PRU và do đó, xin thứ lỗi nếu có sai sót, và xin tự nhiên bổ khuyết. 
 
Trong bài này, chúng tôi gửi đến quí vị một bài về những đơn vị hoạt động rất âm thầm của quân đội chúng ta trước đây. Mãi cho đến nay, rất nhiều người trong chúng ta chưa biết rõ về những đơn vị này và thậm chí một số khác còn không biết rằng có sự hiện hữu của họ. Đó là những Đơn Vị Thám Sát Tỉnh mà tiếng Anh gọi là The Provincial Reconnaissance Units. Khi viết về những người hùng thầm lặng này, chúng tôi đã phải đắn đo rất nhiều và cuối cùng quyết định chỉ nêu ra một số sự kiện tổng quát. Chúng tôi đã tìm hiểu và biết chắc rằng những nhân vật mà chúng tôi nêu danh tánh hay đưa hình ảnh lên trang mạng này hoặc là đã qua đời hoặc là không còn sinh sống tại Việt Nam. Bởi vì, mặc dù đã chiếm trọn được miền Nam Việt Nam 37 năm nay, Việt Cộng chắc chắn sẽ bằng cách này hay cách khác trả thù những người đã góp phần chính yếu làm tiêu tan hạ tầng cơ sở của chúng khiến chúng khốn đốn một thời gian dài trước đây.

Thứ Hai, 27 tháng 8, 2012

Trưng Nữ Vương phục quốc Hùng Lạc

Phạm Trần Anh

Từ xa xưa mãi cho đến ngày nay, hàng năm toàn dân Việt vẫn tổ chức Đại lễ kỷ niệm “Hai Bà Trưng” với tất cả sự thành kính xen lẫn niềm tự hào về hai Bà, bậc nữ lưu Việt tộc đã lưu lại trang sử oanh liệt hào hùng của dân tộc. Thế nhưng, các sách sử Việt Nam cứ trích dẫn sử Trung Quốc nên cho đến ngày nay, chúng ta vẫn chưa biết gì hơn về cuộc khởi nghĩa của Hai bà Trưng ngoài những sách sử của Trung Quốc ghi chép lại với luận điệu của “Thiên triều Đại Hán”. Chính vì vậy, chúng ta phải tìm hiểu xem bối cảnh lịch sử của cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng và nơi đã xảy ra cuộc chiến đầu tiên của Hai bà với quân xâm lược, chúng ta sẽ thấy toàn bộ vấn đề với ý nghĩa cao đẹp của sự thật lịch sử bị chôn vùi hơn 2 ngàn năm nay.
Hậu Hán thư, Mã Viện truyện của Phạm Việp sử gia triều Hán viết về Hai Bà Trưng như sau:“Người đàn bà ở Giao Chỉ tên là Trưng Trắc với em là Trưng Nhị làm phản, đánh chiếm các quận (Chú: Trưng Trắc là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh, là vợ người huyện Chu Diên tên là Thi (Sách) rất hùng dũng (1). Thái thú Giao Chỉ là Tô Định lấy pháp luật mà ràng buộc, Trắc oán giận mà làm phản). Người man di các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng, cướp chiếm hơn sáu mươi thành ở Lĩnh Ngoại. Trắc tự lập làm vua. Bấy giờ vua (Hán) cho Viện làm Phục Ba Tướng quân, lấy Phù Lạc Hầu Lưu Long làm phó, đốc xuất bọn Lâu thuyền tướng quân Đàn Chi đánh Giao Chỉ ở phương Nam. Quân đến Hợp Phố thì bị bệnh chết. Vua chiếu cho Mã Viện kiêm thống suất binh của Chí. Viện bèn dọc theo bờ biển mà tiến, theo núi phát đường hơn nghìn dặm. Năm 18, quân đến Lãng Bạc, đánh phá được giặc, chém hơn nghìn đầu, giặc đầu hàng đến hơn vạn người. Viện đuổi theo bọn Trưng Trắc đến Cẩm Khê, đánh thắng nhiều lần giặc tan chạy. Năm sau tháng giêng chém Trưng Trắc, Trưng Nhị gửi đầu về Lạc Dương.(Chú: Việt chí nói rằng Trưng Trắc khởi binh, đóng đô ở huyện Mê Linh. Khi bị Mã Viện đánh chạy vào suối Kim Khê, 2 năm sau mới bắt được)”.

Văn lang, Âu lạc, Giao chỉ: nhất thống mội Việt Nam nhân giỗ Tổ Hùng, về nguồn oanh liệt xưa

Hà Nhân Văn

Hằng năm vào dịp này, giỗ Quốc tổ Hùng Vương, bản báo và HNV dành mục bình luận thời sự một kỳ để viết về vua Hùng và nước Văn Lang. Năm trước, giỗ Tổ nhằm số báo ra ngày 12-4-2011, mục này đăng tải bài "Giỗ Tổ Hùng tìm về cội nguồn dân tộc". Để tiếp nối, kỳ này trình bày về đất nước của vua Hùng từ Văn Lang, Âu Lạc, Giao Chỉ cũng là một VN xưa nay để trả lời mấy ông sử gia Bắc Kinh, nhất là mấy ông Đại Hán Đỏ đang "chỉ đạo chiến lược Việt - Trung" và Tổng cục tình báo Hoa Nam với luận điệu ngang ngược phi lịch sử: VN là một phần của Trung quốc và là quận huyện của TQ. Và rằng không có nước Văn Lang - Âu Lạc!

Thứ Tư, 20 tháng 6, 2012

Chiến tranh Việt Nam trong toàn cảnh chính trị Thế giới

 Trần Gia Phụng
                                                                  Chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975.  Cuộc chiến nầy là cuộc chiến phức tạp nhất trong lịch sử Việt Nam, xen lẫn nhiều yếu tố chính trị quốc tế lồng trong chiến tranh lạnh toàn cầu giữa hai khối tư bản và cộng sản.  Vì vậy, để góp phần soi rõ chiến tranh Việt Nam vừa qua, thiết tưởng nên đặt chiến tranh Việt Nam trong toàn cảnh chính trị thế giới. 
 
1.-   VẬN MỆNH VIỆT NAM TRONG TAY NGƯỜI NƯỚC NGOÀI
 
Trong điều 1 hòa ước Pháp Việt ngày 6-6-1884, có đoạn nguyên văn như sau: “…Nước Pháp đại diện cho nước Nam trong các việc giao dịch với nước ngoài…”  Như thế có nghĩa là từ năm 1884 tất cả những vấn đề ngoại giao của Việt Nam đều do Pháp quyết định. 
 

Thứ Bảy, 19 tháng 5, 2012

Phi Công Thời Chiến

Nguyễn Hữu Phước

Công việc lái máy bay ở xứ Úc này là một việc mà đa số người Úc đều ham thích và thán phục. Việc lái máy bay có một tính cách phiêu lưu, đem lại những cảm giác mạnh đồng thời khi bay trên không trung người ta cảm thấy được tự do hơn, thoải mái hơn so với những công việc nhàm chán dưới đất.

Đối với giới thượng lưu, khá giả thì lái máy bay là một môn thể thao lý tưởng nhất. Đối với những người không đủ khả năng tài chánh để chơi môn thể thao này thì nghề của họ cũng rất có giá trị và có một lợi tức khá cao so với các ngành nghề khác...

Thế nhưng cái việc lái máy bay của những hoa tiêu Không Quân QLVNCH trước đây nó lại mang những mục đích và tính chất khác hẳn. Họ say mê công việc, nhưng không phải say mê như một môn thể thao, họ đem hết khả năng của mình ra để thi hành phận sự nhưng không phải vì đồng lương cao mà vì lý tưởng bảo vệ miền Nam tự do. Vào những ngày xa xưa đó, các hoa tiêu ưu tú cùng các chuyên viên tài giỏi của miền Nam đã tạo thành một đội ngũ Không Quân hùng mạnh, đủ khả năng để đảm đương nhiệm vụ chiến đấu và yểm trợ quân bạn, sau khi tất cả Không Lực Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam. Về chuyên môn nghề nghiệp, về lòng dũng cảm, về kinh nghiệm chiến trường, họ đã chứng tỏ mình không thua kém bất kỳ một Không Lực Đống Minh nào trên thế giới.

Biển Đông nổi sóng: Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà - Phần II

Trần Đỗ Cẩm
NHỮNG DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG

I. Những diễn biến trước Trận Hải Chiến

Vụ tranh chấp chủ quyền tại Biển Ðông đột ngột trở nên sôi động vào ngày 11.1.1974 khi Trung Cộng ngang nhiên tuyên bố các Quần Ðảo Hoàng Sa và Trường Sa đang nằm trong tay Việt Nam Cộng Hòa là một phần Lãnh Thổ của họ. Ðể làm hậu thuẫn cho những lời tuyên bố vô căn cứ, Trung Cộng phái nhiều tàu đánh cá võ trang xâm nhập hải phận Hoàng Sa và đổ quân giả dạng ngư phủ lên các Ðảo không có Lực Lượng Việt Nam Cộng Hòa chiếm đóng.
Ngay ngày hôm sau 12.1.1974, Ngoại Trưởng Vương Văn Bắc của Việt Nam Cộng Hòa đã cực lực bác bỏ luận điệu ngang ngược và lên án hành động xâm lăng gây hấn của Trung Cộng, đồng thời Bộ Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa cũng chuẩn bị tăng cường chiến hạm tuần tiễu tại vùng biển Hoàng Sa. Lúc đó,chỉ có một Trung Ðội Ðịa Phương Quân thuộc Chi Khu Hòa Vang thuộc Tiểu Khu Quảng Nam gồm 24 người đóng tại Ðảo Hoàng Sa cùng với 4 Nhân Viên thuộc Ðài Khí Tượng. Các Ðảo khác trong Nhóm Nguyệt Thiềm không có Quân Việt Nam Cộng Hòa trú đóng.

Biển Đông nổi sóng: Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà - Phần I

Trần Đỗ Cẩm
MỞ ĐẦU

Vào đầu năm 1974, trong lúc tình hình chiến sự tại Việt Nam trở nên vô cùng sôi động với các trận đánh lớn diễn ra trên khắp bốn vùng chiến thuật thì ngoài khơi Biển Ðông đã xảy ra một Trận Hải Chiến có tầm vóc lịch sử giữa Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa và hải quân Trung Cộng. Ðây là lần đầu tiên kể từ khi Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn dưới thời Nhà Trần đánh thắng quân Mông Cổ, Nam quân lại đụng độ với Bắc quân trên mặt biển. Và cũng như những lần trước, tuy lực lượng của kẻ thù phương Bắc mạnh hơn gấp nhiều lần, các Chiến Sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa noi gương Thánh Tổ đã anh dũng chiến đấu, gây cho địch những tổn thất nặng nề.

Vào thời điểm đó, Tổng Thống Nixon trước đây đã dùng chính sách ‘’ngoại giao bóng bàn’’ ve vãn được Trung Cộng nên nhiều dư luận cho rằng Hoa Kỳ đã gián tiếp bàn giao Quần Ðảo Hoàng Sa cho Trung Cộng cũng như bán đứng miền Nam Việt Nam chỉ một năm sau đó.

Thứ Ba, 8 tháng 5, 2012

Đụng Độ Sinh Tử Giữa Tay Bắn Tỉa Mỹ & Nữ Xạ Thủ VC




1* Mở bài
Một cuộc đọ sức sống chết giữa tay súng bắn tỉa trứ danh của TQLC Hoa Kỳ, có biệt danh là Lông Trắng,
với nữ xạ thủ bắn tỉa Việt Cộng, có biệt danh là Apache, diễn ra trong khu vực Đồi 55 thuộc mặt trận B5, vào năm 1968 trong Chiến Tranh Việt Nam. Tình báo quân sự Hoa Kỳ xác định, nữ xạ thủ Apache là mục tiêu số một phải tiêu diệt. Cái tên Apache cho biết, nguời VC gái nầy tra tấn tù binh Hoa Kỳ và VNCH một cách dã man, và thuờng để cho họ mất máu đến chết. Sở thích của y thị là cắt mí mắt của tù binh Mỹ để làm thành tích và kỷ niệm.

2* Cuộc đụng độ giữa Lông Trắng và nữ xạ thủ Apache
Băng tầng truyền hình History Channel phát đi một loạt tài liệu tựa đề “Bắn tỉa: Những nhiệm vụ gây chết nguời nhất (Sniper: Deadliest missions) thông qua những lời tuờng thuật của tay xạ thủ khét tiếng Hoa Kỳ là Carlos Hathcock và Đại úy Edward James Land, chủ yếu nói về cuộc đụng độ nguy hiểm giữa - ------ Hathcock, có biệt danh là Lông Trắng (White Feather) với

Thứ Hai, 7 tháng 5, 2012

Dưới Mũi Súng Quân Thù

(Lời dẫn nhập: Thượng nghị sĩ John Mc Cain, cựu Đại Tá phi công Hải Quân Hoa Kỳ, đã từng là tù binh chiến tranh của CSVN, phát biểu khi được hỏi về cuộc chiến Việt Nam: "The bad guys won the war." ("Những tên gian ác đã thắng trận.") Câu nói đó có thể dùng làm tiền đề cho hàng ngàn thiên hồi ký của các nạn nhân cộng sản khi mô tả về sự ngu dốt và tàn ác mà CSVN đã và đang áp đặt lên trên hàng chục triệu dân quân cả hai miền Nam Bắc Việt Nam.

Trong bài viết nầy, người viết muốn ghi lại một vài dữ kiện trung thực, tự bản thân đã mắt thấy, tai nghe: những ký ức khắc sâu vào tâm não tại trại tù "cải tạo A-30," ngõ hầu góp thêm một phần nhỏ sự hiểu biết của mình vào định nghĩa "thiên đàng cộng sản."

Thứ Tư, 2 tháng 5, 2012

Những Chiến Hạm Hải Quân VNCH còn lại trong Hải Quân Phi Luật Tân năm 2012

Nguyễn Văn Quân.

Biến cố 30-4-1975 đen tối như cơn lốc kéo đến tàn phá miền Nam Việt Nam, lúc bấy giờ đa số các chiến hạm Hải Quân VNCH (HQVNCH) còn đang  công tác và trong tình trạng khiển dụng, đã rời khỏi Việt Nam, mang theo khoảng 30000 quân nhân và đồng bào thoát khỏi gông cùm cộng sản. Sau chuyến hải hành cuối cùng đó, đoàn chiến hạm HQVNCH trên 30 chiếc đã đến được Subic Bay, một căn cứ Hải quân của Hoa Kỳ tại Phi Luật Tân.
Trước đây những chiến hạm này được Hoà Kỳ chuyển giao cho HQVNCH trong chương trình viện trợ quân sự để bảo vệ đất nước, giờ thì họ phải thu hồi lại. Sau đó, từ tháng 11 năm 1975 đến năm 1977, Hoa Kỳ lần lượt chuyển giao hết số chiến hạm của HQVNCH di tản cho Hải Quân Phi Luật Tân (HQPLT).
Sau 37 năm, trên 30 chiến hạm của HQVNCH hoạt động trong HQPLT chỉ còn lại 7 chiếc.

Danh Sách các Chiến hạm HQVNCH còn laị trong HQPLT
hiện nay:
 
Dương Vận Hạm LST:
- Zamboanga Del Sur LT-86, nguyên là DVH Cam Ranh HQ.500.
- BRP Cotabato Del Sur LT-87, nguyên là DVH Thị Nại HQ.502.
- BRP Kalinga Apayao LT-516, nguyên là DVH Cần Thơ HQ.801.
- BRP Yakal AR-617, nguyên là Cơ xưởng hạm Vĩnh Long HQ.802.


Hộ Tống Hạm PCE:
- BRP Sultan Kudarat PS-22, nguyên là HTH Đống Đa II HQ.07.
- BRP Magat Salamat PS-20, nguyên là HTH Chi Lăng II HQ 08.
- BRP Miguel Malvar PS-19, nguyên là HTH Ngọc Hồi HQ.12.


BRP Kalinga Apayao LT-516, nguyên là Dương vận hạm Cần Thơ HQ.801

Từ hy vọng đến thực tế tan hoang (Phần 1)

Lê Quế Lâm
 
Do yêu cầu của cơ quan “The Center for A Science of Hope” ở New York, năm 2001 ông Nguyễn Xuân Phong -cựu Trưởng phái đoàn VNCH tại hội nghị hai bên miền Nam Việt Nam ở La Celle Saint Cloud (Pháp) từ tháng 3/1973 đến 4/1975, đồng thời là Quốc Vụ khanh đặc trách hòa đàm, đã xuất bản quyển Hope and Vanquished Reality (Hy vọng và Thực tế tan hoang). Đây không phải là bài điểm sách, giới thiệu tác phẩm nói trên của một nhân chứng lịch sử. Tôi chỉ mượn tựa của sách để nói lên nổi bất hạnh của dân tộc, đã gánh chịu cuộc chiến đẩm máu hàng chục năm, cuối cùng niềm hy vọng vừa lóe lên khi hiệp định hòa bình ra đời ngày 27/1/1973, nhưng chỉ hơn hai năm sau, những thành quả xương máu của trên ba trăm ngàn tử sĩ đã sụp đổ tan tành.

Thứ Ba, 24 tháng 4, 2012

Kẻ thắng vẽ lại lịch sử

(04/24/2012)

Người viết nghĩ rằng: “Lịch sử của một triều đại, là ghi nhận trung thực quá trình ra đời, phát triển, cho đến khi kết thúc triều đại đó”. Những kẻ chiến thắng, thói thường viết lại lịch sử thiếu trung thực, hay khoe khoang cái tốt của mình và moi móc hay gán ghép cái xấu cho (kẻ chiến bại) đối phương.

Qua triều đại nhà Tây Sơn, được chú ý nhiều về vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) và các nhân vật liên hệ chính trong triều đại của vua Quang Trung. Những chiến công hiển hách của Ngài: Năm 1785, đánh tan tác 3 vạn quân và 300 chiến thuyền của quân Xiêm (Thái Lan), tại Rạch Gầm đến Xoài Mút ở Mỹ Tho, do Nguyễn Ánh cầu cứu ngoại bang. Chiến thắng Xuân Kỷ dậu năm 1789, tiêu diệt trên 20 vạn quân Mãn Thanh, do Lê Chiêu Thống cầu cứu ngoại bang.

23.04.1975: Thủ Tướng Cẩn Từ Chức

* Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn từ chức
-Sau khi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức vào tối 21 tháng 4/19975, và sau cuộc rút quân khỏi Xuân Lộc, Đại tướng Cao Văn Viên không còn thiết tha với chức vụ Tổng tham mưu trưởng Quân lực VNCH, ông muốn từ chức và ra khỏi quân đội. Trong khi đó, tân Tổng thống Trần Văn Hương lại muốn bổ nhiệm Đại tướng Viên làm Tổng tư lệnh Quân đội với đầy đủ quyền hạn, so với chức vụ Tổng Tham mưu trưởng mà tướng Viên đã nắm giữ từ tháng 10/1965.
-Trong khi chưa tìm ra một người để giao trọng trách tổng chỉ huy Quân đội VNCH trong giai đoạn cam go nhất của lịch sử thì ngày 23 tháng 4/1975, nội các do ông Nguyễn Bá Cẩn làm Thủ tướng nộp đơn lên Tổng thống Trần Văn Hương xin từ chức. Tổng thống Trần Văn Hương đã yêu cầu Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn và các thành viên của nội các tiếp tục xử lý thường vụ cho đến khi có nội các mới được thành lập.


Nguyễn Văn Lộc

Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2012

22.04.1975 Phòng Tuyến Trảng Bom



Ngày 22/4/1975: Quân Đoàn 3 Lập Phòng Tuyến Trảng Bom

*Diễn tiến cuộc triệt thối của Lực lượng VNCH khỏi Long Khánh

Sau hơn 10 ngày quyết chiến với 4 sư đoàn Cộng quân, vào ngày 20 tháng 4/1975, toàn bộ lực lượng VNCH tham chiến tại mặt trận Xuân Lộc được lệnh rút khỏi chiến trườngnày để về Phước Tuy. Cuộc rút quân được diễn ra từ chiều ngày 20 tháng 4/1975, đến sáng ngày 22/4/1975, tất cả các đơn vị đã có mặt tại các vị trí mới do Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3/Quân khu 3 phối trí.

Theo kế hoạch rút quân, lực lượng tham chiến tại Xuân Lộc sẽ sử dụng liên tỉnh lộ 2 phía Nam Long Khánh, rút về Phước Tuy theo thứ tự: Sư đoàn 18 Bộ binh và các đơn vị trực thuộc. Bộ chỉ huy Tiểu khu Long Khánh và các tiểu đoàn Địa phương quân của tiểu khu này. Lữ đoàn 1 Dù và tiểu đoàn 3 Pháo binh Dù.

Lộ trình rút quân là các cánh quân sẽ xuất phát từ Tân Phong, Long Giao, theo Liên tỉnh lộ 2 về Phước Tuy. Theo kế hoạch, Lữ đoàn 1 Dù vẫn tiếp tục giao chiến và đánh bật Cộng quân ra khỏi các vị trí trọng điểm trong thị xã và là lực lượng hậu đoạn sẽ rút đi sau cùng. Các đơn vị của Sư đoàn 18 Bộ binh và lực lượng Địa phương quân rút đi ngay trong buổi chiều. Cánh quân của Sư đoàn 18 BB rút đi tương đối an toàn. Còn cánh quân do Đại tá Phạm Văn Phúc, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Long Khánh chỉ huy đã bị Cộng quân chận đánh. Gần tối 20/4/1975, khi Đại tá Phúc và bộ chỉ huy của ông đang di chuyển, một đơn vị Cộng quân từ trên một đồi cao sát với Liên tỉnh lộ 2, đã bắn nhiều loạt đạn B 40 và bích kích pháo xuống đoàn quân.

Thứ Ba, 17 tháng 4, 2012

17.04.1975: Trận Chiến Xuân Lộc


* CQ tấn công vào phía Nam thị xã Xuân Lộc
Trong ngày 17 tháng 4/1975, các đơn vị thuộc 3 sư đoàn 3, 6, 7 Cộng quân tiếp tục mở các đợt tấn kích vào phòng tuyến phía Nam thị xã Xuân Lộc do 2 tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn 1 Dù án ngữ. Những pha cận chiến giữa chiến binh Nhảy Dù và CQ đã diễn ra quanh các vườn cây rộng mênh mông của khu vườn cây của cố Thống tướng Lê Văn Tỵ, nằm sát đường rầy xe lửa. Không quân đã thực hiện nhiều phi tuần F-5 và A-37 oanh kích vào vị trí đóng quân của một trung đoàn Cộng quân trong khu vườn này.